Tắc Kè và những sự thật thú vị

Bò sát
Đánh giá post

Tắc Kè là loài động vật thuộc phân loài  “bò sát vảy”. Tên của chúng có nguồn gốc từ từ “squamatus” trong tiếng Latinh, có nghĩa là có vảy, mặc dù bản thân những loài bò sát này không có vảy. Hãy cùng nhau tìm hiểu nhiều hơn về loài động vật này nhé.

5 sự thật đáng thú vị về tắc kè

Tắc kè là loài nổi bật trong lớp bò sát ở một số khía cạnh:

  • Những loài bò sát này có thể leo lên mọi bề mặt thẳng đứng một cách dễ dàng nhờ lực hút kéo được tạo ra bởi hàng trăm nghìn sợi lông nhỏ trên ngón chân của chúng.
  • Tắc kè là loài thằn lằn duy nhất có dây thanh âm thực sự.
  • Những loài bò sát này làm sạch mắt bằng cách liếm chúng.
  • Khi mất đuôi trước kẻ săn mồi, chúng có thể tái tạo đuôi mới.
  • Những loài bò sát này thay răng bằng cách mọc răng mới sau mỗi ba đến bốn tháng.

Tắc Kè và những sự thật thú vị

Tên khoa học của tắc kè

Những loài động vật này thuộc một nhóm phân loại có chung tên gọi “bò sát vảy”. “Squamate” có nguồn gốc từ từ “squamatus” trong tiếng Latinh, có nghĩa là có vảy, mặc dù bản thân những loài bò sát này không có vảy. Chúng thuộc về Gekkota hạ tầng, một cái tên được cho là bắt nguồn từ tiếng Indonesia-Malaysia “gēkoq”, là phiên âm của âm thanh mà loài động vật này tạo ra.

Hành vi của Tắc Kè

Mặc dù những loài bò sát này không phải là động vật xã hội đặc biệt, nhưng chúng có hệ thống giao tiếp bằng giọng nói tinh vi khi so sánh với các loài thằn lằn khác . Chúng có dây thanh âm thực sự. Chúng sủa và kêu để xác định lãnh thổ của chúng, để thu hút bạn tình và để tránh xa những kẻ săn mồi; chúng cũng rít và phát ra những tiếng rít ở âm vực cao.

Tắc kè New Caledonian có tiếng gầm gừ đặc biệt đến nỗi các bộ lạc bản địa của những hòn đảo đó gọi nó là “ác quỷ trên cây”. Con tắc kè đuôi lá ở Madagascar phát ra tiếng kêu thảm thiết mà nhiều người ví như tiếng hét của một đứa trẻ.

Tắc Kè và những sự thật thú vị

Môi trường sống tắc kè

Những loài bò sát này sống trong nhiều môi trường sống ấm áp khác nhau trên mọi lục địa trên thế giới, ngoại trừ Nam Cực. Số lượng lớn các biến thể hình thái được tìm thấy ở các loài khác nhau phản ánh những cách mà chúng đã tiến hóa để phù hợp với môi trường sống cụ thể của chúng.

Chế độ ăn kiêng tắc kè

Những loài bò sát này chủ yếu là động vật ăn côn trùng, nhưng chúng cũng ăn sâu, trái cây và mật hoa. Tắc kè đuôi lá thích ăn vặt ốc sên trên cạn . Các loài lớn như tắc kè New Caledonian thậm chí còn được biết là ăn các loài chim nhỏ và động vật gặm nhấm.

Tắc Kè và những sự thật thú vị

Những kẻ săn mồi và mối đe dọa của tắc kè

Động vật ăn thịt bao gồm rắn, chim, nhện và các loài do con người đưa vào như chó và mèo. Trong các khu rừng mưa nhiệt đới ở phía bắc Nam Mỹ, những con vật này bị rình rập bởi loài goliath tarantula nhỏ hơn nhiều, chúng sử dụng nọc độc của nó để làm tê liệt con tắc kè và hóa lỏng thịt của nó.

Các loài chim ăn thịt như diều hâu và cú thường sống ở vùng khí hậu quá lạnh đối với tắc kè, nhưng khi nhiệt độ xuống dưới mức đóng băng và những loài chim này di chuyển về phía nam, những loài bò sát này trở thành con mồi ưa thích.

Tắc Kè và những sự thật thú vị

Hầu hết các loài không có nguy cơ tuyệt chủng, nhưng một số loài nằm trong Danh sách Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Ví dụ như tắc kè có mào ở New Caledonia, được cho là đã tuyệt chủng trong nhiều năm sau khi nhìn thấy lần đầu tiên vào năm 1866 cho đến khi nó được phát hiện lại vào năm 1994. Hai loài khác ở New Caledonian, Bavayia goroensisBavayia , nằm trong Danh sách Đỏ vì khai thác các hoạt động đang thu hẹp môi trường sống của chúng.

Sự sinh sản và vòng đời của tắc kè

Con đực thu hút con cái bằng cách tạo ra âm thanh giao phối riêng biệt và bằng cách rung đuôi của nó. Trong khi giao phối, con đực nắm lấy da ở phía sau cổ của con cái trong hàm của mình và kéo đuôi của mình vào bên dưới bụng của con cái, đưa các khe hở của động vật lại gần nhau để quá trình thụ tinh có thể xảy ra. Tuy nhiên, một số loài, chẳng hạn như tắc kè hoa tìm thấy ở Trung và Nam Mỹ , có thể sinh sản thông qua quá trình sinh sản.

Kích thước quả trứng điển hình là hai quả và trứng được đẻ trên mặt đất, bên dưới đá và vỏ cây. Trứng của chúng có thể mất từ ​​35 đến 90 ngày để nở. Con cái không quan tâm đến trứng hoặc con non khi chúng đã đẻ trứng. Mặc dù nhiều con non có các dấu hiệu cơ thể khác với con trưởng thành, chúng di chuyển, cư xử và phản ứng với môi trường giống hệt như con trưởng thành.

Bài liên quan

Trong thế giới loài cá cảnh, cá koi và luôn được mệnh danh là vua của ao hồ với vẻ

Trên thị trường thức ăn, cám Hikari cho cá koi được biết đến như một trong những thương hiệu hàng

Cám cá koi King Feed là một trong những thương hiệu thức ăn cho cá koi phổ biến nhất hiện